Bùi Minh Quốc, tiếng thét trong thơ

Bùi Minh Quốc, tiếng thét trong thơ

Ðinh Quang Anh Thái

Nhà thơ Bùi Minh Quốc vừa chấp bút mấy vần thơ và từ Ðà Lạt gửi cho thân hữu qua mạng Internet:
Ðảng… chỉ tay,

Quốc Hội… giơ tay,

Mặt Trận… vỗ tay,

Chính Phủ… ra tay,

Doanh nghiệp nhà nước… ngửa tay,

Công an… còng tay,

Tội phạm… bắt tay,

Báo chí… chùn tay,

Trí thức… phẩy tay,

Ðồng đội… cụt tay,

Quan chức… đầy tay,

Dân… trắng tay.


Nhà thơ Bùi Minh Quốc  (Hình: Trần Triết)

Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã nhiều lần uất ức gào lên trong thơ của ông:

 

Tổ quốc hỡi tình chi đau đớn mãi

Con yêu người, ngục tối nuốt trời xanh

Ôi tổ quốc vào tay quỷ dữ

Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình.

 

Bùi Minh Quốc không chỉ dũng cảm trong thơ, ông còn là người nhất mực thủy chung với lý tưởng ông hằng đeo đuổi, là góp phần mưu tìm hạnh phúc, tự do, no ấm cho con người và đất nước Việt Nam. Bùi Minh Quốc chưa hề chịu khuất phục trước cường quyền. Tháng 12 năm 1995, khi công an Hà Nội chặn bắt Hà Sĩ Phu ngay giữa thủ đô, với tội danh gán ghép cho nhà trí thức này là “có hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước,” Bùi Minh Quốc lập tức phổ biến một lá thư ngỏ, trong đó có đoạn như sau:

Ðàn áp tự do tư tưởng, dù với cớ này hay cớ nọ, có thể gây ra sự e ngại ở một số người vào một lúc nào đó, nhưng quyết không thể dập tắt được nhu cầu tự do tư tưởng – đồng thời là tự do ngôn luận – rất thiêng liêng của con người. Nhu cầu ấy đang tăng lên mạnh mẽ trong nhân dân. Người trí thức Việt Nam nhất định không thể tiếp tục chịu mãi nỗi nhục phải ngậm miệng gác bút trước những kẻ miệng hô ‘cởi trói’, ‘đổi mới tư duy’, ‘dân biết, dân bàn’ mà tay lại giơ còng sắt.”

Bùi Minh Quốc còn có bút hiệu là Dương Hương Ly, sinh năm 1940 tại Hà Tây. Ông làm thơ ngay từ thủa nhỏ và nổi tiếng rất sớm. Bùi Minh Quốc và vợ là Dương Thụy Xuân Quỳ thuộc vào thế hệ của những người gắn liền với “huyền thoại” mà giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội gọi là “các văn nghệ sĩ hy sinh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ,” nhưng thực chất chỉ là cuộc xâm chiếm miền Nam, đưa cả nước quy về một mối dưới chế độ toàn trị của đảng cộng sản. Bà Dương Thụy Xuân Quỳ cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Bà đã hy sinh trong chiến tranh, để lại một người con gái tên là Dương Ly Hương. Bùi Minh Quốc dùng tên con gái làm bút hiệu của mình.

Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Bùi Minh Quốc ở lại miền Nam và công tác tại Quảng Nam với chức vụ phó chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh, đồng thời là tổng biên tập Tạp chí Ðất Quảng. Năm 1987, Bùi Minh Quốc chuyển công tác vào Ðà Lạt làm chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Lâm Ðồng, và là tổng biên tập Tạp chí Langbian. Cuối năm 1988, cùng với nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà thơ Hữu Loan, Bùi Minh Quốc thực hiện một chuyến đi xuyên Việt, từ Ðà Lạt qua các tỉnh miền Trung, ra Hà Nội, nhằm vận động giới trí thức và văn nghệ sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ. Sau vụ này, Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc bị khai trừ khỏi đảng cộng sản, còn nhà thơ Hữu Loan bị quản thúc trên đất Bắc. Công an Ðà Lạt còn gọi Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc lên điều tra nhiều lần, thậm chí còn bắt trình diện mỗi ngày. Tình trạng này kéo dài hơn một năm.

Năm 1997, cũng vào một ngày của Tháng Tư, Bùi Minh Quốc và hai người khác tại Ðà Lạt là nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà trí thức Hà Sĩ Phu bị quản chế tại gia bởi Nghị định 31CP do Võ Văn Kiệt, thủ tướng của nhà nước cộng sản Hà Nội ban hành. Nghị định cho phép công an bắt giam người 2 năm mà không cần đưa ra tòa xét xử.

Cho tới nay, công an vẫn thường trực theo dõi nhà của Bùi Minh Quốc và Hà Sĩ Phu ở Ðà Lạt. Tiêu Dao Bảo Cự hiện đã dọn về sống với vợ con ở Sài Gòn.

Bùi Minh Quốc làm thơ rất nhiều. Những bài thơ do ông sáng tác thời chiến tranh đã là một dấu ấn rất lớn cho một thời kỳ quê hương máu lửa. Bùi Minh Quốc sống và viết, lúc nào cũng hừng hực ngọn lửa nhiệt thành. Tập thơ gần đây nhất của ông mang tên “Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” được phổ biến lén lút trong nước, nhưng lại được biết đến nhiều trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhiều người tại quê nhà đã bị công an khám nhà chỉ vì bị ngờ là có cất giấu tập thơ nói trên của Bùi Minh Quốc.

Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” bao gồm nhiều bài, được Bùi Minh Quốc sáng tác trong hai năm 1995 và 1997. Tiếng thơ Bùi Minh Quốc trong tập này là những lời gào thét, uất ức trước những o ép, trấn áp của đảng cộng sản đối với bản thân ông và những tiếng nói dân chủ khác tại Việt Nam. Thơ ông còn phản ảnh tình trạng tụt hậu thê thảm của đất nước và đồng thời nói lên khát vọng của người dân được sống đời tự do. Ðiển hình là bài tựa đề “Cay đắng thay,” Bùi Minh Quốc viết:
Cái guồng máy nhục mạ con người

Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất

Ù lì quay

Quay

Thao thao bài đạo đức

Liệu có ai còn ngây?

Cay đắng thay

Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt

Lại đúc nên chính cỗ máy này.
Bài thơ “Cay đắng thay” chất chứa nỗi chua chát, ngậm ngùi của một người bẽ bàng nhận thấy thực tế không giống với mơ ước. Một người khác, cũng từng thuộc hàng ngũ khai quốc công thần của chế độ cộng sản, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng – để rồi vì chống đảng mà bị khai trừ – là cố Trung tướng Trần Ðộ cũng đã thốt ra những nhận định khủng khiếp về cái thiên đường mà ông đã bỏ cả tuổi trẻ để những mơ xây dựng:
Những mơ xóa ác ở trên đời

Ta phó thân ta với đất trời

Ác xóa đi, thay bằng cực thiện

Tháng ngày tiến hóa, ác luân hồi!
Bùi Minh Quốc không chỉ là nhà thơ, ông còn là người viết tham luận, và qua thể văn này, người đọc thấy Bùi Minh Quốc rất thiết tha với khát vọng bức thiết hiện nay của dân tộc Việt Nam, là được sống trong dân chủ tự do và no ấm. Trong bài tham luận tựa đề “Dân chủ hóa và trách nhiệm của nhà văn,” Bùi Minh Quốc phát biểu quan điểm của ông đối với tình trạng hiện nay của đất nước. Một đoạn trong bài như sau:

Trong hành trình mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tự khẳng định là một dân tộc tuyệt vời về lòng dũng cảm, về đức hy sinh, về sự cần cù, kiên gan, bền chí. Một dân tộc như thế, một đất nước như thế, không thể không đủ sức đủ tài tự tạo cho mình cuộc sống xứng đáng, sau bao nhiêu năm xương máu mồ hôi nước mắt đã đổ ra thấm đẫm từng tấc đất.

Nhưng nhiều năm qua, tôi và nhiều bạn bè của tôi thấy hiện lên hàng ngày trước mắt mình một bức tranh xã hội làm nhức nhối tâm can. Ba lực lượng trụ cột làm nên của cải vật chất và tinh thần cho xã hội là công nhân, nông dân và trí thức, thì cả ba đều phải chịu một cuộc sống khốn đốn kéo dài. Vậy những thành phần nào của xã hội được hưởng đời sống dễ chịu? Ðó là thiểu số những kẻ lợi dụng địa xã hội và chủ nghĩa thăng quan phát tài làm lẽ sống và những kẻ cơ hội luôn uốn lưỡi trở cờ để kiếm chác. Liên kết với hai loại người nói trên là đội quân thường trực những kẻ làm ăn bất chính, cực kỳ tháo vát trong việc khai thác triệt để những kẽ hở đầy rẫy của một cơ chế phi tự nhiên, tập trung, quan liêu, bao cấp.

Cơ chế đó nẩy sinh trong mảnh đất của sự ấu trĩ, có tác dụng nhất thời trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng một thời gian dài đã bị ngộ nhận như một tất yếu bền vững, không gì thay thế được và không được phê phán. Sự tồn tại của cơ chế đó đã gây biết bao tai họa cho đất nước, mà tai họa lớn nhất là nó đã tạo ra một hệ thống giá trị giả, và nguy hiểm hơn, hệ thống giá trị giả này lại luôn luôn được xác định ở vị trí chính thống. Trong kinh tế là giá giả, lương giả, lãi giả; trong chính trị là tình trạng dân chủ hình thức; và trong tư tưởng là tình trạng cấp phát các giáo điều.

Cơ chế nói trên còn tạo ra một thứ quan hệ ngày càng phổ biến là quan hệ ban phát xin xỏ và móc ngoặc, là chỉ huy phục tùng. Hệ thống giá trị giả dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội, đặc biệt nghiêm trọng là nó đã làm ô nhiễm nặng nề đời sống đạo đức và tinh thần mà hậu quả chưa biết đến khi nào mới khắc phục nổi, vì nó đã ngấm vào thế hệ trẻ.”

Nỗi đau của Bùi Minh Quốc có lẽ được bày tỏ rõ ràng nhất trong bài thơ tựa là “Bài thơ Tháng Tám.” Sau đây là một đoạn trích từ bài thơ này:
Dân tộc từng sống chết chẳng so đo

Quyết không làm nô lệ

Sao hôm nay người đành cam chịu thế

Mặc thân phận mình dưới ách gian tà

……

Tôi lại đi, lầm lũi cuộc hành trình

Chỉ có thế thôi!

Thơ

Với cường quyền

Ðối mặt

Sống trong tôi là triệu người đã khuất

Ðang thét đòi món nợ: TỰ DO.

 

Leave a Comment


6 + = fourteen