Trách nhiệm với ngôn từ

IMG_1734

Ghi chép báo chí:

Tinh thần trách nhiệm vì và đối với ngôn từ là một nhiệm vụ mà ngay trong bản chất đã có tính đạo đứcVaclav Havel

 

1.
Ngày 15 tháng Mười, 1989, cố tổng thống Tiệp là ông Vaclav Havel, trong buổi nhận giải Friedenprus des Deutschen Buchandels – Giải thưởng Hòa Bình của Hiệp Hội Phát Hành Sách Ðức quốc, đã phát biểu:

Giải thưởng mà hôm nay tôi hân hạnh nhận lãnh được mệnh danh là một giải thưởng hòa bình và được các nhà phát hành sách – hay nói một cách khác là những người mà nghề nghiệp của họ là truyền bá ngôn từ – trao tặng cho tôi. Vì vậy, có lẽ đây cũng là dịp thuận lợi cho tôi hôm nay để đề cập đến những mối liên hệ huyền bí giữa ngôn từ và hòa bình, hoặc nói một cách rộng lớn hơn là đề cập đến khả năng huyền bí của ngôn từ trong lịch sử loài người. – (Sức mạnh của ngôn ngữ – Vann Phan dịch, Thế Kỷ 21, 1990) 

The prize which it is my honor to receive today is called a peace prize and has been awarded to me by booksellers, in other words, people whose business is the dissemina tion of words. It is therefore appropriate, perhaps, that I should reflect here today on the mysterious link between words and peace, and in general on the mysterious power of words in human history. –  (Vaclav Havel, ‘A Word About Words’ - Hrádecek, 1989 – Bản dịch Anh ngữ của A.G. Brain)

Cố tổng thống Vaclav Havel nhận định, ngôn từ chính là cội nguồn của sự hiện hữu của chúng ta, cũng như, trên thực tế, ngôn từ là nguyên tố cốt lõi của một hình thái sống động trong vũ trụ mà chúng ta gọi là Con Người.

Toàn văn bài phát biểu của Vaclav Havel hôm đó, cho đến nay mỗi khi đọc lại, tôi vẫn thấy điều ông nói không chỉ cho riêng dân tộc mình, là đất nước Tiệp Khắc, mà nó mang một giá trị chung của nhân loại tiến bộ, đồng thời giúp mình có thể nhìn ra đâu đó, những hệ quả dây chuyền của ngôn từ biểu tỏ hàng ngày bị ràng buộc và đè nặng dưới bóng chiếu quyền lực chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Với tư cách là thành viên của nền văn minh hiện đại – dù chúng ta có là kẻ tin tưởng hay không – chúng ra đang dùng ngôn từ để tạo dựng các lý thuyết khoa học và ý thức hệ chính trị, rồi dùng chúng để tác động hoặc hướng dẫn con đường huyền bí của lịch sử – một cách thành công hay là thất bại cũng thế. Nói một cách khác, cho dù chúng ta có ý thức được hay không, và dẫu cho chúng ta có giải thích như thế nào chăng nữa thì vẫn có một điều hiển nhiên: chúng ta lúc nào cũng tin tưởng vào sức mạnh của ngôn từ nhằm thay đổi lịch sử – và đúng như thế trong một ý nghĩa nào đó. – (Sức mạnh của ngôn ngữ – Vann Phan dịch, Thế Kỷ 21, 1990) 

As people who belong to modern civilization-whether believers or not-we use words to construct scientific theories and political ideologies with which to tackle or redirect the mysterious course of history-successfully or otherwise. In other words, whether we are aware of it or not, and however we explain it, one thing would seem to be obvious: we have always believed in the power of words to change history-and rightly so, in a sense. — (Vaclav Havel, ‘A Word About Words’ - Hrádecek, 1989 – Bản dịch Anh ngữ của A.G. Brain)

Câu hỏi đặt ra là, có đúng như vậy không? Ngôn từ của con người đủ sức mạnh để chuyển đổi thế giới và ảnh hưởng tới lịch sử?

Trong một bài bình luận mới đây của giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, dù không nhắc đến việc sử dụng ngôn từ nhưng xuyên qua những phân tích về xu hướng truyền thông xã hội Việt Nam, ta thấy vai trò của ngôn từ thực sự đã góp phần định hình diện mạo xã hội, trong kỷ nguyên điện toán.

Bất cứ trang web hay blog nào tập hợp được đông người, gây tiếng vang và có ảnh hưởng rộng rãi trong công luận, thể hiện được một tiếng nói chung về một số vấn đề liên quan chính sách của nhà nước hay tương lai của đất nước, đều có thể được xem như một tổ chức xã hội dân sự. (Nguyễn Hưng Quốc, Xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông, VOA)

Trở lại với Vaclav Havel, điểm then chốt là mọi biến cố quan trọng trên thế giới hiện thực nầy – dù có đáng khâm phục hay là kỳ quái – đều luôn được trau chuốt cho sắc bén trong thế giới của ngôn từ.

Ông nói, ngôn từ là một hiện tượng huyền bí, mơ hồ, mông lung và phản trắc. Chúng có khả năng là những tia sáng soi rọi vào một lãnh vực tối tăm, nhưng đồng thời cũng có khả năng biến thành những mũi tên giết người. Tệ hại nhất là có những lúc chúng có thể là cái nầy hay cái nọ. Và ngay cả hai thứ cùng một lúc.

Ngôn từ của Lênin – chúng là gì nhỉ? Giải phóng con người hay, trái lại, dối gạt, nguy hiểm và hết sức nô lệ hóa con người?

Và ngôn từ của Marx thì sao? Phải chăng chúng giúp soi sáng một lãnh vực hoàn toàn bị bưng bít của một xã hội máy móc, hay phải chăng chúng chỉ là mầm mống tầm thường đã gây ra những trại lao động khổ sai đáng ghê sợ. Tôi không biết nữa: hầu như chúng là cả hai thứ cùng một lúc. – (Sức mạnh của ngôn ngữ – Vann Phan dịch, Thế Kỷ 21, 1990) 

The words of Lenin-what were they? Liberating or, on ihe contrary, deceptive, dangerous, and ultimately enslaving?

And what about Marx’s words? Did they serve to illuminate an entire hidden plane of social mechanisms, or were they just the inconspicuous germ of all ihose appalling Gulags of the future. I don’t know: most likely ihey were both at once. –  (Vaclav Havel, ‘A Word About Words’ - Hrádecek, 1989 – Bản dịch Anh ngữ của A.G. Brain)

Về điểm này, ta thấy tác giả Huy Ðức có lý khi ông chọn biểu tượng ‘cái loa phường’ làm bìa cho quyển sách gây tiếng vang của mình. Với Huy Ðức, và có lẽ của đại bộ phận người dân Việt Nam, ‘giải phóng’ là một bi kịch mà toàn bộ bi kịch đó, bắt đầu từ hệ thống ngôn từ của ‘Bên Thắng Cuộc,’ nhưng là thứ ngôn từ có sức thôi miên, lừa phỉnh, kích động, làm điên cuồng, dối gạt gây tác hại ngay cả giết người như mũi tên độc. 

Nhân loại đã chứng kiến những nỗi hãi hùng ghê ghớm có tính cách lịch sử có thể mang lại trong những bối cảnh chính trị và xã hội nào đó, từ những ngôn từ hấp dẫn mê mệt, tuy hoàn toàn điên loạn. Xã hội Việt Nam là một trong số đó.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than.” Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

30 tháng Tư, 1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra là miền Bắc. (Huy Ðức, Bên Thắng Cuộc. tr. Xii)

Cuối cùng, toàn bộ bài diễn văn của Vaclav Havel đã vẽ lại một bức tranh của xã hội Tiệp Khắc trước đó, và có thể là Việt Nam bây giờ:

Cũng nhờ chế độ này mà chúng ta có thể phát huy được một nỗi bất tín nhiệm sâu xa về mọi nguyên tắc, ý thức hệ cứng nhắc, ước lệ, khẩu hiệu, khuôn mẫu tinh thần, cũng như những thúc giục ngấm ngầm đối với mức độ khác nhau trong cảm xúc của chúng ta, từ cái thấp hèn cho đến cái cao cả. Vì lẽ đó, chúng tôi giờ đây hầu như miễn nhiễm trước mọi quyến rũ thôi miên, ngay cả bằng danh nghĩa quốc gia hay ái quốc thường có truyền thống thuyết phục con người. – (Sức mạnh của ngôn ngữ – Vann Phan dịch, Thế Kỷ 21, 1990)

This regime has cultivated in us such a profound distrust of all generalizations, ideological platitudes, clichés, slogans, intellectual stereotypes, and insidious appeals to various levels of our emotions, from the baser to the loftier, that we are now largely immune to all hypnotic enticements, even of the traditionally persuasive national or nationalistic variety. – (Vaclav Havel, ‘A Word About Words’ - Hrádecek, 1989 – Bản dịch Anh ngữ của A.G. Brain)

Phải chăng xã hội Việt Nam đang tiến vào giai đoạn như thế, một cách dễ hiểu và tất yếu, như nhận xét của giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, ngôn từ hay những người ý thức tầm quan trọng để luôn cẩn thận với nó, đang thiết lập một trật tự xã hội mới, xuyên qua cách phản ảnh tâm tư nguyện vọng của quần chúng bằng những hình thái sinh hoạt xuất bản và truyền thông thời đại.

Có thể nói, trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, với tư cách một tập thể, nhóm Mở Miệng và nhà xuất bản Giấy Vụn là một trong vài hiện tượng độc đáo và nổi bật nhất trong sinh hoạt văn học tại Việt Nam. Đã có nhiều người viết về họ từ góc độ này. Ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh ở một góc độ khác: Đó cũng là một hình thức xã hội dân sự đúng nghĩa đầu tiên tại Việt Nam, ít nhất là trong lãnh vực truyền thông và văn học nghệ thuật. Đó là một tổ chức công khai, tự nguyện, phi lợi nhuận, hoàn toàn độc lập với nhà nước, có ảnh hưởng sâu và rộng, ít nhất trong giới văn nghệ, và đặc biệt, có một thái độ rõ ràng và dứt khoát đối với nhà nước. Thái độ về mỹ học: Chống lại lối thơ sáo mòn về cả ngôn từ lẫn ý tưởng vốn được xem là “chính thống” tại Việt Nam. Về xã hội: Chọn vị trí của những “kẻ đứng bên lề”. Về chính trị, nói như chính Lý Đợi, trong bài trả lời phỏng vấn do Nhã Thuyên thực hiện:

“Lý do chính của việc thành lập Mở Miệng, ban đầu, là phản ứng lại vấn đề kiểm duyệt và cấp phép xuất bản – vốn đang trị vì một cách bảo thủ, quan liêu. Sau đó, thì muốn bình thường hóa việc tự do ngôn luận, tự do sáng tác và xuất bản.”

Mấy năm sau khi nhóm Mở Miệng ra đời, internet càng ngày càng phát triển và phổ cập, các trí thức và giới văn nghệ sĩ chuyển hướng hoạt động, từ giấy in, họ bước vào không gian ảo với các website và blog. Hiện nay, số lượng các website và blog, đặc biệt blog, có tính độc lập rất nhiều. — (Nguyễn Hưng Quốc, Xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông)

2.
Nói, và Viết, là Tuệ Kiếm trong Tam Pháp Kiếm của phương pháp tranh đấu theo quan niệm Nhân Sinh Quan Phật giáo.

Nói, là một nghệ thuật tác động quần chúng vô cùng mãnh liệt. Người cộng sản cho rằng ‘không có lý luận cách mạng thì không có hành động cách mạng.’ Nên họ nhờ vào miệng lưỡi để sống còn.

Tiếc rằng họ đã nói sai sự thật, sai bước đi của lịch sử, nên mới làm cho đất nước chia rẻ tan hoang như ngày nay. Muốn thắng cộng sản chỉ có thứ vũ khí bằng những lời nói đúng, nói phải, nói thực, mới xua đuổi được những lời nói sai lạc kia để có thể đưa dân tộc thoát cảnh hiện tại.

Viết, là điều quan hệ không kém gì Nói. Vì Nói với Viết chỉ là một. Nói thế nào viết cũng phải đúng như thế ấy. Nói để truyền bá tư tưởng qua miệng lưỡi và vào sau tâm trí người nghe. Còn viết để ghi thành văn trên sách vở lưu truyền sâu rộng mãi về sau…, Nói có nghệ thuật hấp dẫn quần chúng, khiến quần chúng phải đồng tình, thì viết cũng có nghệ thuật làm cho người đọc nhận thức được vấn đề rất bền bỉ và mau chóng. — (Thái Ðạo Thành, Xây dựng Nhân Sinh Quan Phật Giáo, 1969)

Hậu quả trước mắt, các thể chế độc tài coi trọng ‘pháp trị’ và bỏ quên ‘nhân trị,’ rút cuộc đều thất bại. Những hành động trấn áp, thủ tiêu ngôn từ của người muốn mở miệng nói lên sự thật cho Việt Nam hiện nay, là chỉ dấu của một xã hội dân sự đang thay đổi từ bên trong, vì một hệ thống pháp trị nhà nước ngày càng tồi tệ đi.

Ngày 22 tháng Hai, 2013
UYÊN NGUYÊN 

 

 

Tham khảo:
1. A Word About Words – Vaclav Havel, 1989 (In 1989, Havel was awarded the Peace Prize of the German Booksellers Association. It was presented to him, in absentia, at the Frankfurt Book Fair on October 15, 1989. This is his acceptance speech, which was read in Havel’s absence by Maximilian Schell. It was translated by A. G. Brain and reprinted in full in The New York Reviem of Books, January 18, 1990.)
2. Xây dựng nhân sinh quan Phật giáo – Thái Ðạo Thành, Nxb Vạn Hạnh, 1969
3. Sức mạnh của ngôn từ – Vann Phan dịch, Thế Kỷ 21, 1990
4. World Report 2013: Vietnam – Human Rights Watch
5. Tổ chức Nhân quyền Thế giới báo cáo về Tình trạng Nhân quyền Việt Nam 2012 - Ngọc Hòa dịch, The Pacific Chronicle
6. Xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông - Nguyễn Hưng Quốc, VOA.